| |
Theo tập quán lâu đời, dân ta lấy ngày giỗ (ngày mất) làm trọng, cho nên
ngày đó, ngoài việc thăm phần mộ, tuỳ gia cảnh và tuỳ vị trí người đã
khuất mà cúng giỗ. Ðây cũng là dịp gặp mặt người thân trong gia đình
trong dòng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đã khuất và bàn việc người
sống giữ gìn gia phong.
|
Một năm, người Việt có Tết Nguyên Ðán (đúng mồng một
tháng giêng âm lịch) là ngày tết lớn nhất, ngoài ra còn có rất nhiều lễ,
tết đặc trưng khác.
|
Nước Việt là một cộng đồng các dân
tộc anh em. Mỗi dân tộc có một kiểu ăn tết riêng, đôi khi kéo dài rất
dài ngày tạo thành mùa gọi là mùa Tết. Mỗi kiểu ăn Tết đều biểu hiện nét
đặc trưng văn hoá riêng của dân tộc mình.
|
Nền văn hoá truyền thống Việt Nam được hình thành trên
cơ sở của nền văn minh nông nghiệp. Cuộc sống của mỗi người Việt Nam đều
gắn bó mật thiết với xóm làng, quê hương...
|
Theo phong tục Việt Nam "miếng trầu là đầu câu chuyện" miếng trầu tuy rẻ
tiền nhưng chứa đựng nhiều tình cảm ý nghĩa, giầu nghèo ai cũng có thể
có, vùng nào cũng có.
Miếng trầu đi đôi với lời chào, người lịch sự không "ăn trầu cách mặt"
nghĩa là đã tiếp thì tiếp cho khắp. Vì trầu cau là "đầu trò tiếp khách"
lại là biểu tượng cho sự tôn kính, phổ biến trong các lễ tế thần, tế gia
tiên, lễ tang, lễ cưới, lễ thọ, lễ mừng...
|
Cưới hỏi là một lễ trọng có quy định
chặt chẽ của dân tộc Việt từ trước tới nay không có gì thay đổi trên nền
tảng cơ bản, chỉ có một số lễ tục thay đổi để phù hợp với thời đại.
|
Tục cưới hỏi ở
Việt Nam rất phong phú
và đa dạng. Đặc biệt hơn cả là tục cưới hỏi của đồng bào Dao, Ê Đê và La
Hủ...
|
Người Việt Nam quan niệm rằng "nghĩa tử là nghĩa tận" nên khi có người
chết, tang lễ được tổ chức trọng thể.
|