•
Nghề gốm:
Nghề gốm ở Việt Nam đã có từ lâu.
Ở miền Bắc thì có gốm Bát Tràng (Hà Nội), gốm Đông Triều (Quảng Ninh),
gốm Phù Lãng (Bắc Ninh), gốm Thổ Hà (Bắc Giang)... Ở miền Nam có gốm Sài
Gòn, gốm Bình Dương, gốm Biên Hoà (Đồng Nai)...
Ngày nay sản phẩm gốm của Việt Nam rất phong phú, từ những vật nhỏ như
lọ đựng tăm, gạt tàn thuốc lá... những sản phẩm cỡ trung bình như lọ
hoa, tượng phật, thiếu nữ, bộ ấm trà, cà phê, bát, đĩa, chậu cảnh đến
những sản phẩm cỡ lớn như lọ độc bình, đôn voi...
Những màu men gốm được ưa chuộng là men ngọc, men da lươn, men vàng nhẹ,
men chảy. Hoạ tiết trên sản phẩm được gắn liền với những nét quen thuộc
trong đời sống như chú bé thổi sáo ngồi trên mình trâu, cây đa cổng
làng, mái chùa hồ sen, thiếu nữ gảy đàn... Hàng gốm Việt Nam đã có mặt
trên nhiều thị trường quốc tế.
• Nghề mây tre đan:

Cây tre, cây song và cây mây là đặc sản của xứ sở Việt Nam
nhiệt đới. Ba loại cây này trở thành nguồn nguyên liệu vô tận của những
người thợ thủ công làm hàng mây tre đan. Hàng mây tre đan Việt Nam đã có
mặt ở Hội chợ Pari năm 1931. Đến nay, hơn 200 mặt hàng này đã đi khắp
năm châu, được khách hàng ưa chuộng. Với bàn tay khéo léo của những
người thợ, những thân cây tưởng như vô dụng đã trở thành những đĩa bày
hoa quả, lẵng hoa, bát hoa, làn, giỏ, khay, lọ hoa, chao đèn, bộ salon
tủ sách...
Ưu điểm của hàng mây tre đan là: nhẹ, bền, không mọt.
• Sơn mài:
Trên thế giới nhiều nước làm hàng
sơn mài. Một số nước trồng được cây sơn, nhưng chỉ có cây sơn Việt Nam
trồng ở đất Phú Thọ là có giá trị nhất. Nhựa cây sơn Phú Thọ tốt hơn hẳn
nhựa sơn trồng ở nơi khác. Chính vì vậy, hàng sơn mài Việt Nam đã nổi
tiếng đẹp lại bền.
Thế kỷ thứ 18 ở Thăng Long (Hà Nội hiện nay) đã có phường Nam Ngư chuyên
làm hàng sơn. Ban đầu sơn mài chỉ có bốn màu: đen, đỏ, vàng, nâu. Dần
dần do khoa học kỹ thuật phát triển, bảng màu của sơn mài ngày càng
phong phú, tạo cho sản phẩm sơn mài đẹp lộng lẫy và sâu thẳm.
Ngày nay các mặt hàng sơn mài như tranh treo tường, lọ hoa, hộp đồ nữ
trang, hộp đựng thuốc lá, khay, bàn cờ, bình phong... đã trở thành mặt
hàng không thể thiếu trên thị trường trong nước và quốc tế.
• Khảm trai:
Người thợ khảm dùng những mảnh có vân ngũ sắc vỏ trai, vỏ hến, ốc biển
để khảm (gắn) lên các đồ vật. Công việc của thợ khảm khá tỷ mỷ và qua
nhiều công đoạn: Vẽ mẫu tranh, mài, cưa, đục mảnh, khảm (gắn) lên tranh
rồi lại mài nhẵn và đánh bóng. Bức tranh khảm hiện lên trên mặt đồ vật
với nhiều màu sắc lung linh. Từ chiếc hộp gỗ, cái khay, bàn cờ, mặt bàn,
thành ghế, cánh tủ, bình phong, tranh treo tường... bằng gỗ đều có thể
khảm trai.
Với 3260km bờ biển, nguồn nguyên liệu của nghề khảm trai ở Việt Nam là
vô tận.
• Chạm khắc đá:
Từ những khối đá cẩm thạch, người thợ chạm khắc đá đã làm ra nhiều sản
phẩm có giá trị như vòng đeo tay, gạt tàn thuốc lá, tượng phật, tượng
thiếu nữ, hoa lá và cây cảnh, các con vật đáng yêu như mèo, chim công...
Nghề chạm khắc đá có ở nhiều nơi nhưng nổi tiếng là ở Đà Nẵng. Dưới chân
núi Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) là các làng Quan Khái, Hoà Khê, dân làng có
nghề chạm khắc đá truyền thống.
• Thêu ren:
Người thợ thêu Việt Nam rất khéo
tay, họ biết cách hoà sắc hàng chục loại chỉ mầu cho một bức thêu.
Các loại hàng thêu rất đa dạng, mẫu thêu ngày càng phong phú: Hoa sen,
hoa cúc, rồng phượng, đôi chim tùng hạc, đôi chim uyên ương, phong cảnh,
chân dung... Tùy theo ý nghĩa của từng đồ dùng mà người thợ thêu chọn
mẫu. Có loại mẫu thêu dành cho áo sơ mi, có loại mẫu thêu dành cho áo
gối, có loại để thêu áo kimono, có loại để thêu khăn trải bàn, khăn phủ
giường, tranh treo tường...
Nghề thêu ren có từ lâu đời, ở nhiều địa phương nhưng có lẽ bắt nguồn từ
làng Quất Động (Hà Tây). Trong danh mục các tên phố cổ của Hà Nội có
tên phố Hàng Thêu chuyên bán các đồ thêu (nay là đoạn cuối phố Hàng
Trống giáp với phố Lê Thái Tổ). Ngoài ra, hiện nay hệ thống cửa hàng
tranh thêu lụa XQ cũng giúp du khách hiểu thêm và cảm nhận một phần về
văn hóa Việt Nam và tài năng của những người thợ thêu.
• Nghề kim hoàn:
Từ thế kỷ thứ 2, người Việt Nam đã biết dùng vàng bạc để
làm đồ trang sức. Trong nghề kim hoàn có ba nghề khác nhau nhưng liên
quan mật thiết với nhau.
Nghề chạm: Chạm, trổ những hình vẽ, hoa văn trên mặt đồ vàng, đồ bạc.
Nghề đậu: Kéo vàng, bạc (sau khi đã nấu chảy) thành sợi dài rồi uốn ghép
thành những hình hoa, lá, chim muông, gắn lên các đồ trang sức.
Nghề trơn: Chuyên đánh vàng, bạc thành những đồ trang sức mà không cần
chạm trổ.
Các mặt hàng từ vàng, bạc rất đa dạng: Nhẫn, vòng, dây chuyền, hoa tai,
bộ đồ ăn (dao, phuốc-xét, thìa) bộ ly uống rượu, khung gương, hộp phấn,
lược, chân cây nến... và đã được xuất khẩu đi nhiều nước. Nghề vàng được
bắt nguồn từ làng Định Công (Hà Nội) và nghề bạc bắt nguồn từ làng Đồng
Xâm (Thái Bình). Hà Nội ngày nay vẫn có phố Hàng Bạc, phố này từ xa xưa
chuyên chế tác và mua bán vàng bạc. Ngày nay các cửa hiệu vàng bạc có ở
khắp nơi trên đất nước.
• Nghề đồ gỗ mỹ nghệ:
Nghề làm đồ gỗ mỹ nghệ đã có ở Việt Nam từ lâu và đã đạt
đến trình độ khá cao. Sau một thời gian mai một, từ đầu những năm 80,
nghề làm đồ gỗ mỹ nghệ lại được phát triển mạnh mẽ vừa phục vụ nhu cầu
trong nước, vừa để xuất khẩu. Các mặt hàng gỗ mỹ nghệ chủ yếu là tượng
gỗ, bàn ghế, tủ, sập (giường)...
Các công ty gỗ mỹ nghệ trong cả nước với đội ngũ nghệ nhân và thợ lành
nghề đã tạo ra nhiều sản phẩm vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị
nghệ thuật.
Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam