Tục
cưới hỏi của người Dao
Lễ cưới Dao là một nghi lễ của người đồng bào dân tộc
Dao: Dao đỏ, Dao quần trắng. Lễ cưới diễn ra chủ
yếu ở nhà trai, còn nhà gái chỉ tổ chức 1 bữa ăn vui vẻ đưa cô dâu về nhà chồng.
Thường tổ chức ăn cưới 2-3 ngày. Ngày nay, do được
tuyên truyền vận động, họ chỉ tổ chức ăn cưới 1-2 ngày, song thủ tục phải được
tiến hành đầy đủ.
Trước
khi cô dâu về nhà chồng, thầy mo cúng trình báo tổ tiên nhà gái. Lễ vật gồm:
- 1 thủ lợn
- 1 con gà luộc
- 1 đĩa xôi màu đỏ
- 1 chai rượu
- 6 chiếc chén
Đặt
trước bàn thờ tổ tiên. Sau đó anh rể (chủ hôn nhà gái) cùng chị dâu trang điểm
cho cô dâu, mặc từ 2-4 bộ quần áo mới, cùng đồ trang sức, rồi đến trước bàn thờ
tổ tiên cúi lạy 3 lạy, đến trước mặt ông, bà, cha, mẹ, cô, dì, chú, bác lạy một
lạy tạ ơn rồi lên đường về nhà chồng. Trên đường đi, cô dâu phải trùm vải đỏ,
người phù dâu phải che mặt cho cô dâu. Người Dao đỏ quan niệm, khi người đi lấy
chồng không để mặt trời nhìn thấy bởi sợ mất vía cô dâu, sẽ không gặp may trong
cuộc đời sau này.
Khi
đoàn đưa dâu đến gần nhà trai sẽ phải nghỉ chân trên đường, chờ người dẫn đường
của nhà trai về báo trước. Nhà trai sẽ cử một đoàn kèn, trống và ông chủ lễ ra
cổng đón. Trong lúc hai bên gặp nhau thường diễn ra cuộc hát đối đáp và mời
nhau uống rượu.
Tổ
chức lễ Cưới
Người
Dao đỏ còn có quan niệm: Đoàn đưa dâu của nhà gái dù gần hay xa đều phải nghỉ
lại nhà trai một đêm trong gian buồng tạm trú. Nơi ngủ được làm tạm ở góc đầu
đốc nhà chỉ kê vừa một chiếc giường. Lễ vật gồm:
- 1 con lợn nhỏ mổ
sạch sẽ
- 1 ít tiền âm
- 1 bát hương.
Sau
đó thầy mo sẽ cúng trình báo tổ tiên nhà trai rồi thay mặt gia chủ mời tổ tiên
về dự và phù hộ cho hai gia đình cùng đôi vợ chồng trẻ.
Bữa
tiệc mở đầu cho lễ cưới họ nhà trai diễn ra vui vẻ, đội kèn nhập mâm đón cô dâu
vào nhà. Theo cách chọn giờ thì khi cô dâu vào nhà chính phải vào lúc từ 2 đến
11 giờ. Đó là khoảng giờ tốt nhất cho cô dâu và chú rể sau này.
Tục cưới hỏi của đồng bào Ê Đê
Mùa xuân, có dịp lên vùng cao thăm đồng bào Ê Ðê, bạn sẽ cảm nhận được nhiều
điều thú vị. Ví như "lệ" cưới hỏi của trai gái thuộc dân tộc này.
Người Ê Ðê có một cách làm đẹp riêng. Trai gái đến tuổi trăng rằm - 15, 16 tuổi
- phải cà 6 chiếc răng cửa của hàm trên. Ðây là tục lệ bắt buộc, không bạn trẻ
nào có thể chối từ. Một chiếc vòng tay được xem như "giấy chứng
nhận", trao cho bạn trẻ vừa cà răng xong, và từ đó họ có quyền tự do
"tìm hiểu".
Dân tộc này có tục ở rể. Các cô gái phải tự đi kiếm chồng và chịu phí tổn toàn
bộ tiền cưới. Một cô gái đã "nhằm" một chàng trao nào đó, thì nhờ ông
"mối" đem chiếc vòng đồng sang nhà trai để hỏi chồng. Chàng trai thấy
"ưng bụng" thì sờ tay vào chiếc vòng đồng ấy, rồi làm lễ nhận vòng.
Vậy là, sự "ràng buộc" giữa hai nhà đã có sợi dây thân thiết. Ðể tìm
hiểu cô dâu được kỹ càng, nhà trai có thể "đem" cô gái về ở nhà mình.
Tổ chức lễ cưới ở họ nhà gái. Tất nhiên phải có lợn và rượu. Con lợn được mổ để
lấy máu thoa vào chân cô dâu, chú rể, rồi cúng tổ tiên cầu cho hai trẻ được
sống hạnh phúc. Tiếp đó, ông "mối" xúc cho cô, cậu mỗi người hai
miếng cơm và ba chén rượu. Tất cả mọi người có mặt đều ăn một miếng thịt và một
miếng ruột lợn. Ông trưởng họ cầm chiếc vòng đồng, cô dâu, chú rể sờ tay vào
chiếc vòng đó, "tiết mục" này kết thúc lễ cưới.
Sau ba ngày, đôi bạn trẻ về nhà chồng lấy các thứ tư trang, dụng cụ sản xuất về
nhà gái, để vợ chồng cùng làm ăn. Người Ê Ðê coi ngoại tình là một tội nặng, vì
sự việc không đẹp này gây nên mùa màng bị thất thu cho cả buôn làng. Bởi vậy,
kẻ ngoại tình phải phạt một con lợn trắng, hai cái bát đồng, để làm lễ tế đất.
Tế xong, bắt hai người trích máu ở đầu ngón tay để uống, rồi xuống suối tắm cho
sạch.
Tục lệ cưới xin của dân tộc La Hủ
Mời bạn lên vùng cao phía Bắc, thăm bà con dân tộc La Hủ thuộc tỉnh Lai Châu.
Tục lệ cưới xin ở đây có nét đẹp riêng. Tháng 11, 12 hàng năm - là dịp tết của
người La Hủ - cũng là mùa cưới của các đôi trai gái yêu nhau. Chàng trai tìm
hiểu cô gái, đã tới độ "chín muồi", anh có thể tới nhà cô gái ngủ một
vài tối. Tục lệ cho phép anh, chị có thể ngủ chung giường.
Lễ na-nhí, tức lễ dạm hỏi như vùng xuôi, thường vào buổi tối. Ông
"mối" cùng bố mẹ và anh em nhà trai sang nhà gái để "có
lời". Lễ vật là rượu và một thứ "quà quý" của rừng - ("quà
quý" này nhất thiết phải có thịt sóc rừng). Qua trò chuyện, nhà gái thấy
bằng lòng thì hai bên cùng uống rượu, nhắm thịt sóc.
Sau lễ dạm là lễ hỏi, hai lễ này cách nhau khoảng bảy, tám ngày. Theo tục lệ,
lễ hỏi gồm hai chai rượu và số con sóc phải là số chẵn chứ không được số lẻ,
chừng 6 đến 8 con. Nhà trai phải "tuân theo" số lượng con sóc của nhà
gái: 6 hoặc 8 con, vì theo lệ từ xưa, số sóc không được ít hơn 4 nhưng cũng
không được nhiều hơn 8. Người làm mối trong lễ hỏi còn là người "đầu
bếp", tự tay làm thịt sóc, trình bày các món ăn này sao cho ngon để mời
nhà gái.
Trong khi ăn uống vui vẻ hai bên trao đổi về tiền cưới và thời gian ở rể. Ngày
xưa, tiền cưới khá "nặng túi": những 70 đến 80 đồng bạc trắng. Trường
hợp nhà rể nghèo, không có bạc trắng, thì anh phải ở lại làm rể ngay tối hôm
đó. Thời gian ở rể bây giờ rút xuống còn từ 2 đến 4 năm, thời trước từ 8 đến 12
năm.
Nếu lễ ăn hỏi có số con sóc phải chẵn, thì lễ cưới quy định: đoàn đi đón dâu
phải là số lẻ, trong đó có hai ông "mối" và chàng rể. Khi nhà trai đón
dâu đi, ông "mối" trao tiền cưới cho nhà gái. Trên đường đi, dù có nhớ
bố mẹ, cô dâu cũng không được ngoảnh lại nhìn ngôi nhà cô sinh ra và lớn lên,
vì nếu vấp ngã, e sau này vợ chồng có chuyện cãi cọ không hay.
Rước dâu về đến nhà, bà mẹ chồng đã đứng đợi ở cửa. Bà lấy một nắm gạo xoa lên
lưng con dâu, ngụ ý "xóa hết cỏ để con dâu không mang cỏ về, trên nương sẽ
không có nhiều cỏ mọc". Lại còn tục lệ: bà mẹ chồng trồng hai cây riềng ở
hai bên cửa vào nhà, rồi buộc sợi chỉ trắng qua hai cây riềng. Lúc vào nhà, cô
dâu đi phía tay trái, chú rể đi phía tay phải, rồi chú rể dùng tay trái, cô dâu
dùng tay phải "cắt" đứt sợi chỉ đó, bước vào nhà. Xong thủ tục này
hai họ cùng nâng chén chúc những câu tốt lành và ăn uống vui vẻ.
Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam